Bài đăng mới
print this page

Bộ sưu tập sách Việt ngữ trên trang Thiền OSHO

Bộ sưu tập sách Việt ngữ trên trang Thiền OSHO



Tôi không nhớ đã sưu tầm các tác phẩm của Người bằng Việt ngữ chính xác tự bao giờ, nhưng đến nay đã được gần 90 quyển:
Tôi đã say mê làm đêm làm ngày bất cứ lúc nào “rảnh rỗi” (Thật ra có ai mà quởn trong thời buổi kinh khủng này). Nhưng một hôm tôi giựt mình tỉnh thức nhờ đọc một câu chuyện nhỏ mà Người đã từng kể trong một bài nói. Hôm nào tìm lại được câu chuyện đó trên trang Thiền OSHO tôi sẽ repost cho bạn xem.
Vậy là từ bữa đó trở đi, mỗi ngày dù bận cỡ nào tôi cũng đọc 1, 2 trang những lúc ngồi trong xe chờ vợ từ chỗ làm ra; 10-15 phút trước khi đi ngủ, hoặc thường nhất là khi vừa đọc vừa gõ lên bàn phím, sửa lỗi chính tả để post bài lên trang Thiền OSHO.
Chẳng biết cho tới ngày nhắm mắt xuôi tay, tôi có đọc hết các tác phẩm của Người không nữa! Đó là còn chưa kể rất nhiều tác phẩm chưa được dịch sang Tiếng Việt!!
Thú thiệt, tôi cũng thích thú đọc các nguyên tác bằng Anh ngữ vì chúng mang cái âm hưởng đặc biệt của Người khi Người nói Tiếng Anh. Tôi cũng hơi tài lanh khi có ý định dịch sang Tiếng Việt các nguyên tác mà tính đến nay còn chưa được các dịch giả rớ đến. Có lẽ vài ngày dịch một trích đoạn và post lên luôn trên trang này. Bạn hữu hãy chờ xem tôi có nói dóc không nhé!

Thôi, hôm nay vậy đủ rồi. Khá khuya.
0 comments

Làm sao vứt bỏ được bản ngã?

Làm sao vứt bỏ được bản ngã?



Thưa Thầy kính yêu,
Thầy liên tục nói về vứt bỏ bản ngã, nhưng làm sao tôi có thể làm thế được khi tôi không thể phân biệt được giữa cái gì là bản ngã và cái gì là bản tính thực của tôi?
Anand Vedant, bản ngã không thể bị vứt bỏ. Nó giống như bóng tối - bạn không thể vứt bỏ bóng tối được, bạn chỉ có thể đem ánh sáng vào. Khoảnh khắc ánh sáng hiện hữu, bóng tối không còn nữa. Bạn có thể nói đây là cách vứt bỏ bóng tối, nhưng đừng coi nó đúng theo từng từ. Bóng tối không tồn tại chút nào - nó là thiếu vắng ánh sáng. Do đó bạn không thể làm cái gì trực tiếp với nó được. Bạn chỉ có thể làm cái gì đó với ánh sáng - hoặc đem đèn vào hoặc đem đèn ra.
Nếu bạn muốn bóng tối, tắt đèn đi; nếu bạn không muốn bóng tối, bật đèn lên. Bản ngã không thể bị vứt bỏ.
Thiền có thể được học. Thiền vận hành như sánh sáng, thiền là ánh sáng.
Trở thành ánh sáng đi, và bạn sẽ không tìm thấy bản ngã ở đâu cả.
Nếu bạn muốn vứt bỏ nó bạn sẽ bị rắc rối, bởi vì ai là người này, người muốn vứt bỏ nó? Đó lại là bản thân bản ngã - bây giờ đang chơi trò chơi mới, trò chơi có tên tâm linh, tôn giáo, nhận ra cái ta. Ai đang hỏi câu hỏi này? Nó chính là bản thân bản ngã, đang lừa bạn. Và khi bản ngã hỏi làm sao bản ngã có thể bị vứt bỏ, một cách tự nhiên bạn nghĩ, "Điều này không thể là bản ngã được. Làm sao bản ngã có thể hỏi về tự tử của riêng nó?" Đó là cách bản ngã cứ lừa dối bạn.
Tự tính của bạn không có câu hỏi, nó không cần câu trả lời. Tự tính của bạn tuyệt đối là ánh sáng, đầy ánh sáng. Nó không biết tới bóng tối, nó chưa bao giờ gặp bất kì bóng tối nào.
Bồ đề đạt ma tới Trung Quốc. Ông ấy là một trong những chư phật vĩ đại nhất của mọi thời đại. Sau Phật Gautam, Bồ đề đạt ma dường như là người quí giá nhất trong dòng truyền thừa Phật giáo. Khi ông ấy tới Trung Quốc, danh tiếng của ông ấy đã lan xa trước ông ấy rồi. Ngay cả Vũ đế người cai quản toàn Trung Quốc cũng tới đón ông ấy ở biên giới. Và cuộc đối thoại diễn ra giữa hai người này có tầm quan trọng mênh mông. Nó phải được thiền đi thiền lại. Nó có thông điệp vô cùng cho tất cả các bạn.
Vũ đế không chỉ là một hoàng đế lớn, ông ấy còn rất tôn giáo nữa, và ông ấy đã làm nhiều điều cho thông điệp của Phật Gautam. Thực tế không người nào khác ngoài hoàng đế Ashoka đã làm nhiều thế cho Phật giáo như Vũ đế đã làm. Ông ấy đã biến đổi toàn thể Trung Quốc thành thế giới Phật giáo. Ông ấy đã làm hàng nghìn đền chùa cho Phật, ông ấy đã làm hàng trăm tu viện - hàng triệu sư Phật giáo được ngân khố hoàng gia trợ giúp. Ông ấy đã dịch kinh sách Phật giáo sang tiếng Trung Quốc. Hàng nghìn học giả đã làm việc nhiều năm, gần như cả đời họ. Ông ấy đã làm việc vĩ đại. Một cách tự nhiên, ông ấy muốn biết từ Bồ đề đạt ma, "Công lao của ta là gì?"
Điều đầu tiên ông ấy hỏi Bồ đề đạt ma là, "Ta đã làm nhiều thế, công lao của ta là gì? Ta sẽ được gì? Đức hạnh nào?" $ketdoan $modoan
Bồ đề đạt ma nhìn ông ấy một cách rất nghiêm khắc. Nếu bạn đã từng thấy tranh về Bồ đề đạt ma bạn sẽ phân vân. Ông ấy trông như sư tử hơn như con người - rất dữ tợn; mắt ông ấy xuyên thấu, như lưỡi kiếm. Ông ấy phải đã gọt Vũ xuống cho vừa đúng kích cỡ của ông này chỉ bằng cái nhìn của ông ấy.
Vũ bắt đầu run, ông ta chưa bao giờ tới đối diện một người như vậy. Ông ta đã chinh phục nhiều kẻ thù, ông ta đã chinh phục nhiều quân vương nguy hiểm, nhưng Bồ đề đạt ma là con người nguy hiểm nhất mà ông ta đã bắt gặp. Đó là một sáng mát mẻ, nhưng ông ta bắt đầu vã mồ hôi.
Và Bồ đề đạt ma nói, "Công trạng sao? Đức hạnh sao? Ông ngu thì có! Bây giờ đây là bản ngã và không cái gì khác đang kiếm chất nuôi dưỡng và chất béo nhân danh tôn giáo và tâm linh. Ông nhất định xuống địa ngục thứ bẩy, tâm niệm vào!"
Vũ không thể nào tin được vào tai mình, không thể nào tin được vào mắt mình. Ông ấy nói, "Nhưng cả nghìn sư khác tới từ Ấn Độ và họ tất cả đều nói, 'Tâu Vũ hoàng đế, bệ hạ đã làm việc phục vụ lớn lao cho tôn giáo của Phật. Bệ hạ là người yêu của Phật, bệ hạ được Phật ban phúc.' Nhưng ông đang nói chính điều đối lập!"
Bồ đề đạt ma nói, "Quên tất cả những sư đó đi! Họ đang chống đỡ cho ông, họ đang ca ngợi ông bởi vì họ biết rằng đó là điều ông mong đợi từ họ. Họ là những người tinh ranh và xảo trá. Họ không biết gì về Phật và thông điệp của ông ấy. Bản thân ta là phật, ta không phải là sư Phật giáo. Ta nói theo thẩm quyền riêng của ta, và ta nói với ông: Ông báng bổ vừa vừa chứ!"
Vũ đế hỏi, "Ông muốn nói không có gì linh thiêng, không có gì tâm linh trong tất cả những hành động đẹp này sao?"
Bồ đề đạt ma nói, "Không hành động nào là linh thiêng cả, bởi vì mọi hành động đều nảy sinh từ bản ngã. Khi ông quên tất cả mọi hành động, khi ông biến mất và mọi sự bắt đầu xảy ra theo cách riêng của nó và ông không thể nhận rằng chúng là hành động của ông, chỉ thế thì cái gì đó có giá trị mênh mông, có cái đẹp mênh mông mới thấm vào cuộc sống của ông.
"Tâm linh không có liên quan gì với việc làm, tâm linh là hương thơm của hiện hữu, và ông còn chưa là sự hiện hữu. Ông vẫn quan tâm rằng ông phải làm cái này, ông phải làm cái nọ.
"Bản ngã là người làm, bản tính của ông là người không làm. Tự tính của ông đơn giản cho phép sự tồn tại tuôn chảy qua nó, nó đơn giản cho phép luật tối thượng vận hành qua nó. Tự tính của ông chỉ là cây trúc hổng. Trong bàn tay của tự nhiên tối thượng nó trở thành cây sáo và bài ca hay được sinh ra từ nó. Nhưng sáo không thể nói, 'Đây là bài ca của ta. Công trạng của ta là gì? Ta sẽ thu được gì từ nó? Ta sẽ đạt tới cõi trời nào, niềm vui nào?' Cây sáo trúc chỉ là cái không. Toàn thể bản thể của nó bao gồm cái không. Đó là lí do tại sao bài ca có thể tuôn chảy qua nó, nó hoàn toàn trống rỗng."
Bị choáng - nhưng ông ta có thể thấy ra vấn đề - Vũ nói, "Ông là người đầu tiên không bị ấn tượng bởi quyền năng vĩ đại, tiền bạc và vương quốc của a. Ông là người đầu tiên ta cảm thấy rằng cái gì đó là có thể được. Làm sao ta có thể vứt bỏ được bản ngã này? Đúng, ta có thể hiểu được vấn đề của ông nêu. Thứ nhất, ta đã đòi vương quốc lớn, bây giờ ta đòi cái gì đó của cõi bên kia. Nhưng việc đòi hỏi này là một và người đòi hỏi là một. Ta có thể thấy vấn đề của ông nêu. Ta cúi đầu trước ông. Ta biết ơn rằng ông đã không lễ phép với ta, rằng ông đã đánh mạnh vào ta. Ông đã làm ta tổn thương nhưng ta cám ơn. Làm sao ta có thể vứt bỏ bản ngã này?" $ketdoan $modoan
Và Bồ đề đạt ma hỏi, "Ông muốn vứt bỏ bản ngã nào? Ông lại muốn làm cái gì đó. Nếu ông vứt bỏ nó, thế thì bản ngã sẽ vẫn còn dai dẳng. Đây là trò chơi tinh vi của bản ngã: nếu ông vứt bỏ nó, bản ngã bắt đầu tới từ cửa sau. Nó bắt đầu nói, 'Trông đây! Tôi đã vứt bỏ bản ngã rồi. Trông xem tôi khiêm tốn làm sao. Không có ai khiêm tốn hơn tôi. Tôi là người khiêm tốn nhất trên thế giới - chỉ là bụi dưới chân ông thôi.'
Nhưng nhìn vào trong mắt, nhìn vào trong tim người đang đòi rằng mình là người khiêm tốn nhất đó đi - đó là cùng bản ngã đấy. Đó không phải là vô ngã. Vô ngã không thể nhận khiêm tốn được. Vô ngã không thể nhận vô ngã được. Vô ngã không thể nhận mọi thứ, nó đơn giản rơi vào im lặng. Nó thậm chí không thể nói, 'Tôi không có, tôi là không ai cả' - bởi vì 'tôi' có thể tồn tại trong bất kì lời nhận nào."
Hoàng đế hỏi, "Thế thì giúp ta đi bởi vì ta không thể thoát ra khỏi bản ngã này được."
Bồ đề đạt ma nói, "Sáng sớm mai lại đây, vào ba giờ sáng. Tới một mình thôi, không mang ai theo ông cả. Và đừng lo nghĩ - ta sẽ chấm dứt nó một lần và cho xong mãi mãi."
Cả đêm hoàng đế không thể ngủ được. "Ông ta ngụ ý gì? - cái ông sư điên này. Ông ta sẽ chấm dứt nó một lần cho xong mãi mãi sao? Và người này trông nguy hiểm thế... và ba giờ sáng không phải là thời gian để gặp người như vậy. Ông ta có thể làm bất kì cái gì, ông ta không thể nào dự đoán được. Và ông ta đã yêu cầu rằng ta phải tới một mình."
Nhiều lần nhà vua quyết định không đi, nhưng sức lôi kéo lại lớn, con người này có cái gì đó như lực từ hút tới. Ông ta phải đi. Vào ba giờ sang ông ta thấy mình đã sẵn sàng. Ông ta đi. Bồ đề đạt ma đang đợi bên ngoài kinh thành trong một ngôi chùa nhỏ. Trời vẫn còn tối, và Bồ đề đạt ma chờ đợi... với cây thiền trượng trong tay.
Và ông ấy nói, "Vậy là ông đã tới! mặc dầu ông đã ngần ngại nhiều. Ông đã quyết định nhiều lần không tới. Ông không thể ngủ được cả đêm, ông cũng không cho phép ta ngủ - bởi vì ta phải cứ lôi kéo ông. Nhưng bây giờ ông đã tới mọi sự có thể được giải quyết vĩnh viễn. Ngồi trước ta đây, nhắm mắt lại, đi vào trong, và tìm xem bản ngã ở đâu! Và đừng rơi vào giấc ngủ bởi vì ta đang ngồi trước ông với cây thiền trượng. Ta sẽ đánh vào đầu ông ngay lập tức nếu ông đi vào giấc ngủ! Tỉnh táo đi bởi vì khi ta đánh ta đánh thực mạnh đấy. Và tìm ra xem... Nếu ông có thể tìm thấy bản ngã, chỉ nó cho ta rằng đây là bản ngã và ta sẽ chấm dứt nó. Đầu tiên ông phải tìm ra nó, nơi nó đang đó."
Hoàng đế tuân theo logic này. Ông ấy nhắm mắt lại. Không thể nào rơi vào giấc ngủ được. Bồ đề đạt ma đang ngồi đó. Ngay cả với mắt nhắm ông ta vẫn có thể thấy Bồ đề đạt ma đang ngồi đó, và thỉnh thoảng Bồ đề đạt ma đánh cây thiền trượng lên đất chỉ để ông ta biết rằng "Ta đang đây. Ông cứ tìm đi."
Hai giờ trôi qua, ba giờ trôi qua. Vũ nhìn và nhìn mãi. Lần đầu tiên ông ta nhìn vào bên trong. Thực tế nếu bạn nhìn vào bên trong và bạn có thể vẫn còn tỉnh táo, chỉ trong bốn mươi tám phút thôi... Đó là giới hạn. Bản ngã có thể cứ lảng tránh bạn chỉ trong bốn mươi tám phút, không nhiều hơn thế. Điều này đã từng là kinh nghiệm của mọi chư phật trong nhiều thời đại. Bây giờ, đừng hỏi tại sao bốn mươi tám phút, bởi vì điều đó là không thể trả lời được. Nó cũng giống như nước ở một trăm độ thì bay hơi, không ai hỏi tại sao. Tại sao không chín mươi chín độ? Sao không một trăm linh một độ? Không có câu hỏi về nó, nó đơn giản vậy, luật của tự nhiên. Tại một trăm độ nước bay hơi. Đích xác như thế, nếu bạn có thể vẫn còn tỉnh táo và quan sát liên tục không vẩn vơ, trong bốn mươi tám phút, toàn thể bản thể bên trong của bạn trở nên yên tĩnh tế, im lặng thế, an bình thế, tỉnh táo thế. Lần đầu tiên có sáng tỏ, sáng tỏ trong suốt. Bạn có thể thấy mọi thứ đang đó. $ketdoan $modoan
Và Vũ nhìn và nhìn và nhìn mãi và không thể tìm thấy được bản ngã nào - bởi vì bản ngã không thể được tìm thấy. Nó là hư cấu, nó chỉ là ý tưởng của bạn, nó không có thực chất trong nó. Nó thậm chí không phải là cái bóng, nói gì tới bản chất? Nó tồn tại chỉ bởi vì bạn chưa nhìn vào trong. Nhìn vào trong, ánh sáng của bạn được khám phá ra - điều bao giờ cũng có đó, bạn chỉ phải có cái nhìn vào trong và thấy nó. Ông ta đã tìm bản ngã nhưng ông ta thấy ánh sáng, bởi vì bản ngã không có đó và ánh sáng có đó. Ông ta đã đi tìm bản ngã nhưng ông ta đã thấy ánh sáng. Và một khi ánh sáng được tìm thấy thì không có bóng tối.
Ba giờ trôi qua và thế rồi mặt trời lên, và khuôn mặt của Vũ được biến đổi. Ông ta có cái đẹp mới, sự duyên dáng mới. Bồ đề đạt ma cười và ông ấy nói, "Bây giờ, mở mắt ra đi. Ông đã không thể nào tìm được nó... cho nên ta đã chấm dứt nó mãi mãi rồi."
Vũ mở mắt ra, chạm chân Bồ đề đạt ma và nói, "Thưa thầy, thầy đã không làm điều gì vậy mà thầy đã chấm dứt nó." Đó là phép màu của thầy; thầy chưa bao giờ làm một điều gì, và vậy mà phép màu tối thượng xảy ra trong sự hiện diện của thầy. Sự hiện diện của thầy là phép màu, sự hiện diện của thầy có phẩm chất phép thần.
Anand Vedant, bạn không cần vứt bỏ bản ngã. Nhìn vào trong, tìm xem nó ở đâu - đầu tiên tìm nó đã. Đừng lo nghĩ về tự tính ngay bây giờ. Đi vào trong, tìm bản ngã, và bạn sẽ không tìm thấy nó; thay vì thế bạn sẽ thấy tự tính của mình, chói sáng, toả hương thơm như hoa sen. Người ta chưa bao giờ bắt gặp cái đẹp như vậy ở bất kì đâu khác. Nó là kinh nghiệm đẹp nhất của cuộc sống. Và một khi bạn đã thấy bông sen ánh sáng riêng của mình, việc nở hoa sen riêng của mình, bản ngã bị chấm dứt mãi mãi. Thế thì bạn sẽ không hỏi những câu hỏi vô nghĩa thế.
"Làm sao phân biệt," bạn nói, "giữa cái gì là bản ngã và cái gì là bản tính đúng của tôi?"
Hoặc bản ngã có đó, thế thì bản tính đúng không được biết tới; hoặc bản tính đúng được biết, thế thì không bản ngã nào còn lại. Bạn không thể có cả hai, do đó bạn không thể làm bất kì phân biệt nào; bạn không thể phân biệt được chúng, chúng không thể cả hai cùng hiện diện. Chỉ một thứ có thể hiện diện.
Ngay bây giờ, bất kì cái gì bạn là cũng đều là bản ngã, cho nên đừng lo nghĩ về phân biệt. Nếu như không có bản ngã vấn đề sẽ không nảy sinh chút nào. Tự tính biết không có câu hỏi, tự tính là cực lạc, không là vấn đề.
0 comments

Chương 10. Quên hết tất cả về nó đi

Hiểu lầm là gì?
Tương lai của khoa học sẽ là gì?

Câu hỏi thứ ba:
Thưa Thầy kính yêu, Hiểu lầm là gì?
Sahajananda, hiểu lầm xảy ra chỉ cho người thông thái, nó không bao giờ xảy ra cho người hồn nhiên. Nó không bao giờ xảy ra cho những người biết rằng họ không biết gì; chỉ với những người đó hiểu biết mới xảy ra. Nhưng với những người nghĩ họ đã biết rồi, chính tri thức của họ là rối loạn, sao lãng. Chính tri thức tạo ra hiểu lầm.
Nếu bạn đã mang cái gì đó trong tâm trí mình, và thế rồi bạn nghe tôi, chỉ có hai khả năng: hoặc là bạn thấy tôi tán thành bạn hoặc bạn thấy tôi không tán thành bạn. Nếu bạn thấy tôi tán thành bạn, bạn phải đã hiểu lầm, bởi vì tôi không thể tán thành bạn được. Điều đó là không thể được, tôi có thể tán thành bạn chỉ nếu bạn cũng có thể được thức tỉnh, nếu bạn cũng ở trong cùng không gian, chỉ thế thôi. Cho nên bạn phải đã bóp méo lời, bỏ đi vài lời, thêm vào vài lời, cho chúng nghĩa mới - nghĩa của bạn, tô mầu chúng, giết chết chúng theo triết lí của bạn, cách sống của bạn, hay bất kì cái gì bạn gọi nó. Đó là một loại điều chỉnh. Và thế rồi bạn có thể rất sung sướng rằng tôi tán thành bạn.
Tôi không thể tán thành bạn được. Điều đó là không thể được. Tán thành là có thể chỉ nếu chúng ta cả hai đều ở cùng không gian, bằng không thì không được. Trong lẫn lộn của bạn, trong sáng tỏ của tôi, không có khả năng nào cho tán thành cả. Cho nên đó là loại hiểu lầm đầu tiên, còn nguy hiểm hơn nhiều loại hiểu lầm thứ hai.
Loại hiểu lầm thứ hai là: tôi nói điều này và bạn lập tức nhảy lên chống lại nó bởi vì bạn đã tới với cách tiếp cận phủ định. Hiểu lầm thứ nhất tới từ người đã tới với cách tiếp cận khẳng định. Thông thường, mọi người nghĩ rằng nếu bạn tới với cách tiếp cận khẳng định bạn không thể hiểu lầm được. Cách tiếp cận khẳng định được đánh giá cao rất nhiều trên toàn thế giới. Tất nhiên, các tu sĩ, những người lãnh đạo của bạn đều ca ngợi cách tiếp cận khẳng định của bạn bởi vì bạn tán thành với họ. Tôi không thể ca ngợi nó được bởi tán thành của bạn chẳng có nghĩa gì với tôi.
Cách tiếp cận phủ định của bạn nghĩa là bất đồng, nhưng cả hai đều là hiểu lầm. Nếu bạn đã đi tới với một tâm trí tiêu cực - rằng bạn chống lại tôi, rằng người này là sai - bạn phải đã thu thập nó từ ý kiến công chúng, từ báo chí, từ tạp chí. Và nếu bạn đã đi tới với thái độ phủ định, thế thì bất kì cái gì tôi nói bạn sẽ tìm ra cái gì đó sai với nó. Bạn bị uốn theo việc tìm cái gì đó sai với nó. Đó là một loại hiểu lầm khác.
Với tôi, cả hai đều là hiểu lầm. Và loại thứ nhất là nguy hiểm hơn, bởi vì loại hiểu lầm thứ hai sẽ không làm hại gì. Bạn sẽ đi với bàn tay trống rỗng, có vậy thôi; bạn đã không mất cái gì cả. Nhưng hiểu lầm thứ nhất có thể là nguy hiểm. Bạn sẽ đi với ý tưởng rằng tôi tán thành với bạn. Bạn sẽ trở nên bản ngã hơn, tưởng rằng ý tưởng của bạn là đúng, và điều đó là nguy hiểm hơn. Nếu bạn nghĩ ý tưởng của tôi là sai, không có vấn đề gì, bạn vẫn còn như cũ. Nhưng nếu bạn nghĩ rằng ý tưởng của bạn là đúng bởi vì chúng tán thành với tôi và tôi đang tán thành bạn, thế thì bạn sẽ đi với bản ngã được làm mạnh hơn.
Cách tiếp cận khẳng định nguy hiểm hơn nhiều so với cách tiếp cận phủ định. $ketdoan $modoan
Người tìm kiếm thực tới mà không có tâm trí khẳng định không tâm trí phủ định. Người đó tới chỉ với tâm trí cởi mở. Người đó tới một cách im lặng. Người đó không có ý tưởng trước thế này hay thế nọ.
Người đó đơn giản lắng nghe, người đó không can thiệp. Người đó không cứ liên tục phán xét. Người đó vẫn còn trong một loại buông bỏ - im lặng, cởi mở, mong manh. Vấn đề không phải là đồng ý hay bất đồng. Bạn đơn giản lắng nghe! Điều người này phải nói, bạn đơn giản lắng nghe nó. Và bạn không liên tục bình luận bên trong bản thân mình rằng "Vâng, cái này đúng, cái kia sai. Cái này cùng ý với Gita còn cái này không cùng ý với Gita. Nếu nó không cùng ý với Gita làm sao người này có thể đúng được? Gita nhất định phải đúng."
Và bạn biết gì về Gita? Mọi điều bạn biết về Gita là ý tưởng của bạn về Gita. Bạn không thể hiểu được Krishna. Để hiểu Krishna bạn phải là một krishna, để hiểu Phật bạn phải là vị phật - không có cách khác. Và khi bạn là vị phật, sao bạn phải bận tâm hiểu Phật? Khi bạn là một krishna, cần gì hiểu Krishna? Bạn biết bản thân mình.
Người tìm kiếm thực lắng nghe với tâm trí trống rỗng, trống rỗng hoàn toàn. Người đó lắng nghe một cách toàn bộ, không có đánh giá, không có phán xét. Thế thì không có khả năng nào cho hiểu lầm. Và phép màu của hiểu đúng là ở chỗ, nếu bạn lắng nghe một cách im lặng, bất kì điều gì là đúng đều lập tức đánh đúng sâu vào tình cảm của bạn ở đâu đó, một nhịp điệu. Sâu bên dưới ở đâu đó trong trái tim bạn sự đồng bộ xảy ra. Đó là phép màu của chân lí. Nếu tâm trí im lặng và nếu chân lí được nói ra, trái tim bạn lập tức bắt đầu đập cùng nó, bắt đầu nhảy múa cùng nó. Và đó là tán thành đúng, không phải tán thành của cái đầu, không phải tán thành của bản ngã, mà cái gì đó mang tính tồn tại, cái gì đó mang tính toàn bộ. Thế thì bạn đã hiểu. Và nếu cái gì đó không đúng, trái tim bạn vẫn còn lạnh lùng.
Cho nên không cần bận tâm liệu nó là đúng hay sai. Nếu nó đúng nó chạm tới cái gì đó ở sâu trong bạn tới mức bạn thậm chí không nhận biết chiều sâu như vậy tồn tại. Và nếu nó không đúng, chẳng cái gì chuyển động trong bạn. Cho nên toàn thể bản thể trở nên mang tính quyết định, không chỉ cái đầu bạn - cái chỉ là một mảnh mẩu. Đừng bao giờ cho phép mảnh mẩu quyết định cho cái toàn thể; để cái toàn thể quyết định.
Một người đánh cá cuồng tín kể cho anh bạn thân về giấc mơ lớn của mình: "Tớ mơ tớ ở trên hồ một mình trong chiếc thuyền với Elizabeth Taylor."
Bạn thân của anh ta nói, "Úi giời - làm sao cậu làm ra được điều đó?"
Anh ta nói, "Tốt - tớ bắt được con cá bơn mười pounds!"
Bạn biết người đánh cá, bạn biết người điên về bắt cá - ai bận tâm về Elizabeth Taylor? Điều đó là bên ngoài vấn đề. Người đó bắt được con cá bơn mười pound.
Anh ta thực sự là người say mê golf. Anh ta vừa mới đặt phát bóng vào lỗ thứ nhất thì một cô gái đẹp chạy tới anh ta trong bộ quần áo đám cưới lộng lẫy.
Người chơi golf vẫy tay ra hiệu cho cô ấy đi ra và nói, "Sylvia, anh bảo em - chỉ nếu trời mưa thôi!"
Hai người say đang lái xe qua cây cầu và một người nói, "Khi anh tới cuối cầu, rẽ trái nhé."
Người kia chảy nước dãi, "Anh bảo tôi về cái gì? $ketdoan $modoan
Anh đang lái chứ'!"
Trong trạng thái ngủ của bạn, trong trạng thái say của bạn, có tán thành nào? bất đồng nào? hiểu biết nào? hiểu lầm nào? Nó tất cả như nhau.
Ở đây, lắng nghe tôi, trở nên ngày một im lặng và tỉnh táo hơn đi. Quên hết về tán thành và bất đồng đi. Tôi không quan tâm tới việc cải tâm bạn, tôi không phải là nhà truyền giáo. Tôi không quan tâm tới việc tạo ra việc đi theo - không chút nào. Tôi chắc chắn quan tâm tới việc chia sẻ vui vẻ của tôi với bạn, chắc chắn quan tâm tới việc chia sẻ chân lí của tôi với bạn. Nhưng đó là chuyện hoàn toàn khác.
Dave và Mabel mới cưới nhau và trên đường từ nhà tới trang trại. Con ngựa già của họ đi ngày một chậm hơn, và mặc dầu nỗ lực của Dave, ngay trước khi trời chạng vạng tối con ngựa lăn đùng ra chết! Không có gì làm ngoài việc dựng trại nghỉ đêm dưới cái cây gần đó.
Đôi mới cưới ôm ấp nhau dưới cái chăn, và Dave quay sang Mabel, nói, "Này, ấy đi, yêu ấy?"
"Ấy cái gì, anh?" Mabel đáp.
"Ồ, đừng bận tâm," Dave nói.
Một lúc sau, Dave nói, "này... à, ừ, ấy đi?" Mabel đáp, "Ấy cái gì, anh?"
Dave hỏi, "Ồ, mẹ em không nói với em về hôn nhân là gì sao?"
Mabel đáp, "Em không biết anh ngụ ý gì, anh!"
Dave nói, "Này - à - ừ - à - em là đàn bà, và anh là đàn ông, và em thấy đấy - này - đàn ông có cái này - và nó cho cuộc sống."
"Này, lạy Trời, Dave," Mabel nói, "ra mà cắm vào con ngựa và để chúng ta lại đi được!"

Câu hỏi thứ tư:
Thưa Thầy kính yêu,
Trong linh ảnh tiên tri của thầy, thầy nghĩ tương lai của khoa học sẽ là gì?
Raju Bharathi, tôi không có linh ảnh tiên tri. Tôi không phải là nhà tiên tri - tôi không phải là kiểu cổ đó chút nào. Bạn nghĩ tôi tới từ kinh Cựu ước sao?
Tôi là con người thế kỉ hai mươi và vẫn sống động đầy đủ, và tôi không bận tâm chút nào về tương lai; tôi cũng không chăm lo tới quá khứ. Toàn thể mối quan tâm của tôi là hiện tại, bởi vì chỉ hiện tại tồn tại. Quá khứ không còn nữa, tương lai còn chưa có. Cả hai đều không tồn tại. Những nhà tiên tri kia phải đã điên, những người quan tâm tới tương lai. Họ bao giờ cũng nói về tương lai.
Có hai kiểu người điên duy nhất trên thế giới: vài người bao giờ cũng nói về quá khứ, và vài người bao giờ cũng nói về tương lai. Những người nói về quá khứ là các nhà lịch sử, nhà khảo cổ, vân vân. Còn những người nói về tương lai là các nhà tiên tri, những người có tầm nhìn xa, các nhà thơ. Tôi không phải là loại người đó.
Toàn thể mối quan tâm của tôi là khoảng khắc này... bây giờ... ở đây. $ketdoan $modoan
Cho nên vứt bỏ ý tưởng đó đi, Raju. Raju là nhà khoa học, và một cách tự nhiên anh ấy quan tâm tới tương lai của khoa học. Tôi không phải là nhà tiên tri, nhưng một điều tôi có thể nói, và nó chẳng liên quan gì tới tương lai thực sự. Nó đang xảy ra ngay bây giờ. Bởi vì mọi người mù họ không thể thấy được nó. Tôi có thể thấy được nó. Nó đã trở thành thực tại.
Điều vĩ đại nhất đang xảy ra - điều sẽ được hiểu chỉ về sau - là gặp gỡ của khoa học và tôn giáo, là gặp gỡ của Đông và Tây, là gặp gỡ của duy vật và tâm linh, là gặp gỡ của cái bên ngoài và cái bên trong, là gặp gỡ của hướng ngoại và hướng nội. Nhưng điều đó đang xảy ra ngay bây giờ. Nó sẽ tăng lên trong tương lai, nhưng mối quan tâm của tôi là hiện tại. Và tôi cực kì hạnh phúc là cái gì đó có tầm quan trọng lớn lao đang trên đường rồi.
Hạt mầm đã đâm chồi. Bạn quan tâm nhiều với quá khứ hay với tương lai tới mức bạn không thể thấy được cái chồi nhỏ đang mọc lên ngay bây giờ. Ở đây, dưới mắt bạn... sự gặp gỡ của các cái đối lập - các cái đối lập đang biến thành những phần bù.
Một mình khoa học chỉ là một nửa và không thể là sự hoàn thành cho con người. Nó có thể cho bạn thân thể tốt hơn, nó có thể cho bạn sức khoẻ tốt hơn, cuộc sống dài hơn. Nó có thể cho bạn nhiều tiện nghi, nhiều xa hoa hơn. Tôi không chống lại tất cả những cái này. Tôi không phải là người khổ hạnh, tôi không là cái thứ ngu xuẩn đó chút nào. Nhưng nó chỉ có thể cho bạn những thứ của thế giới bên ngoài - cái là đẹp trong bản thân chúng.
Tôi muốn mọi người sống trong tiện nghi hơn, trong xa hoa hơn, trong sức khoẻ tốt hơn, được nuôi dưỡng tốt hơn, được chăm sóc tốt hơn, được giáo dục tốt hơn. Nhưng điều đó không phải là tất cả - đó chỉ là chu vi của cuộc sống, không phải trung tâm.
Tôn giáo cung cấp trung tâm. Nó cho bạn linh hồn. Không có linh hồn, khoa học là cái xác - có thể là cái xác đẹp. Bạn có thể tô vẽ cái xác, bạn có thể tắm rửa cái xác và mặc áo quần đẹp cho nó, nhưng cái xác là cái xác! Và, nhớ lấy, cùng điều đó là trường hợp cho tôn giáo. Một mình tôn giáo không đủ chút nào. Một mình tôn giáo làm cho bạn thành ma, có thể là ma linh thiêng, nhưng nó làm bạn thành ma.
Bạn có thể thấy điều này xảy ra ở Ấn Độ. Toàn thể đất nước đã trở thành ma linh thiêng - thân thể đã biến mất, sức khoẻ thể chất đã biến mất, giàu có vật chất đã biến mất. Và khi không có thân thể để hỗ trợ linh hồn, bạn đơn giản nói điều vô nghĩa. Bạn có thể cứ nói về Brahman - thực tại tối thượng - nhưng với cái dạ dầy đói nó không có tác dụng. Nó có thể chỉ là lối thoát khỏi thực tại.
Nếu bản thân tôn giáo không phải là thực tại, nó trở thành lối thoát khỏi thực tại. Nếu tôn giáo mà không đủ duy vật nó trở thành lối thoát, nó trở thành thế giới mơ, vùng đất Disneyland. Đó là điều đã xảy ra ở phương Đông: chúng ta nói quá nhiều về tâm linh và quên mất về thực tại bao quanh chúng ta. Chúng ta trở nên hướng nội, quan tâm quá nhiều về bản thân mình. Chúng ta quên mất tất cả về những cái đẹp của cây cối và núi non và mặt trời và mặt trăng và các vì sao. Nhân loại ở phương Đông trở thành xấu. Nó có trung tâm nhưng không có chu vi. Mọi thứ đã co lại vào trung tâm.
Phương Tây có chu vi nhưng không có trung tâm. Mọi người có mọi thứ, nhưng cái gì đó bản chất bị thiếu. $ketdoan $modoan
Khoa học và tôn giáo đang trở thành một. Chúng đang trở thành một. Tôi không nói chúng sẽ trở thành một, chúng đã trở thành một. Tất cả các nhà khoa học vĩ đại nhất - Eddington, Planck, Einstein - những người có tầm cỡ cao nhất trong thế giới khoa học, đã trở nên nhận biết rằng một mình khoa học là không đủ. Có cái gì đó còn huyền bí hơn nhiều mà không thể được hiểu thấu chỉ qua phương pháp luận và phương tiện khoa học, cái gì đó cần cách tiếp cận khác, cần nhận biết mang tính thiền hơn.
Eddington nói trong cuốn tự tiểu sử của mình, "Khi tôi bắt đầu nghề nghiệp của mình như một nhà khoa học tôi thường nghĩ rằng thế giới bao gồm các vật, nhưng khi tôi già đi tôi trở nên ngày một nhận biết hơn rằng thế giới không chỉ bao gồm các vật mà còn cả ý nghĩ."
Thực tại gần với ý nghĩ nhiều hơn với vật. Thực tại còn bí ẩn hơn nhiều so với điều bạn có thể cân, đong, đo đếm, hơn bạn có thể thực nghiệm được. Thực tại không chỉ có tính khách quan mà cũng còn tính chủ quan. Thực tại không chỉ là nội dung mà cũng còn là tâm thức. Và những người tôn giáo vĩ đại nhất, như J. Krishnamurti, nhận biết rằng tôn giáo không thể tồn tại thêm nữa được như nó đã từng tồn tại cho tới giờ. Cái gì đó của thay đổi triệt để được cần tới.
Cách tiếp cận riêng của tôi là ở chỗ chúng ta phải tạo ra Phật Zorba.
Hôm nay, chỉ bởi trùng hợp ngẫu nhiên, là ngày sinh của Phật, cũng là ngày chứng ngộ của ông ấy, và cũng là ngày chết của ông ấy. Ông ấy được sinh ra vào ngày này, ông ấy trở nên chứng ngộ vào ngày này, ông ấy chết vào ngày này. Trăng tròn hôm nay thuộc về ông ấy. Chính điều trùng hợp kì lạ là chuỗi dài các bài nói của Phật - một trăm hai mươi sáu bài tất cả... khi tôi bắt đầu tôi không có ý tưởng nào rằng nó sẽ chấm dứt hôm nay.
Mới đêm hôm nọ Laxmi bảo tôi, "Mai là ngày Phật Purnima" - ngày trăng tròn của Phật.
Để ngày hôm nay cũng là ngày sinh của vị phật mới. Vị phật mới này sẽ là tổng hợp của Zorba người Hi Lạp và Phật Gautama. Ông ấy không thể chỉ là Zorba, và ông ấy không thể chỉ là Phật.
Và đó là toàn thể nỗ lực của tôi ở đây, Raju này, để tạo ra cây cầu giữa Zorba và Phật - để tạo ra cây cầu, cầu vàng, hay cầu cầu vồng, giữa đất này, bờ này, và bờ xa thẳm kia, cõi bên kia. Nó đang xảy ra ở đây! Bạn có thể không thấy nó đang xảy ra theo bất kì cách nào khác...
Chúng ta có đủ loại nhà khoa học ở đây. Bây giờ, bản thân Raju đã trở thành một sannyasin. Anh ấy có thông minh khoa học lớn lao. Anh ấy còn trẻ, nhưng có thông minh vô cùng. Anh ấy là một trong những nhà khoa học đưa con người đầu tiên lên mặt trăng - anh ấy thuộc vào dự án đó. Có nhiều nhà khoa học khác thế ở đây. Có nhà thơ và nhạc sĩ, hoạ sĩ - đủ mọi loại người, và họ tất cả gắn với nhau trong một nỗ lực lớn lao: thiền. Chỉ có một điểm gặp gỡ ở đây và đó là thiền. Chỉ một điểm họ cần gặp gỡ; bằng không họ tất cả đều có tính cá nhân riêng của mình. Từ gặp gỡ này việc bùng nổ vô cùng là có thể. Nó đã xảy ra rồi. Những người có mắt có thể thấy nó đang xảy ra.
Đây có thể là chỗ duy nhất trên trái đất nơi tất cả các nước đều được đại diện. Chúng ta thiếu người Nga nhưng bây giờ tôi sung sướng nói rằng họ cũng có ở đây. Tất cả mọi giống nòi đều gặp gỡ ở đây, tất cả các tôn giáo đều gặp gỡ ở đây. Đây là vũ trụ thu nhỏ, thế giới nhỏ, và chúng ta tất cả đều gặp gỡ ở đây như những con người. Không ai là người Ki tô giáo, người Hindu hay người Mô ha mét giáo. Không ai biết ai là nhà khoa học, ai là nhạc sĩ, ai là hoạ sĩ, ai là diễn viên lừng danh. Không ai đã bao giờ nói... $ketdoan $modoan
Mới hôm nọ tôi tình cờ bắt gặp một tin: một trong các sannyasin của chúng ta đã được giải thưởng lớn, nổi tiếng thế giới. Cô ấy đã ở đây, cô ấy đã ở đây trong nhiều tháng, nhưng cô ấy không bao giờ kể với ai rằng cô ấy là nữ diễn viên lớn. Và bây giờ cô ấy nổi tiếng thế giới; cô ấy bây giờ được coi là một trong những đối thủ nghiêm chỉnh nhất cho giải thưởng cao nhất. Nhưng cô ấy chưa bao giờ nói với bất kì ai về bất kì cái gì.
Có những nhạc sĩ tầm cỡ lớn, các nhà thơ, tác giả, hoạ sĩ, nhà điêu khắc, nhà ảo thuật... đủ mọi loại người có ở đây. Và họ tất cả đều đã gặp gỡ trong hội nhập sâu sắc. Điểm gặp gỡ duy nhất của họ là thiền - và tình yêu của họ với thầy họ.
Một khoa học hoàn toàn mới nhất định sẽ tới. Nó sẽ là cả khoa học và tôn giáo, chỉ thế thì nó mới có thể là toàn bộ. Nó sẽ là khoa học cả của cái bên trong và cái bên ngoài. Thực tế, thời của tôn giáo qua rồi, chỉ khoa học sẽ có tác dụng, một từ sẽ có tác dụng. 'Khoa học' là từ hay; nó nghĩa là việc biết, trí huệ.
Khoa học nên được phân chia thành hai loại: khoa học khách quan - hoá học, vật lí, toán học, vân vân - và khoa học chủ quan. Thế thì không cần phân chia tôn giáo và khoa học. Và gặp gỡ của tôn giáo và khoa học trong một toàn thể sẽ tạo ra con người toàn thể trên trái đất lần đầu tiên. Bằng không, mãi cho tới giờ nhân loại đã từng bị tâm thần phân liệt, chia chẻ, không lành mạnh, bị phân chia.
Tôi ủng hộ tất cả cho con người toàn thể, bởi vì với tôi con người toàn thể là con người linh thiêng.
0 comments

Cái không là gì?

Cái không là gì?


Osho kính yêu,
Liệu có khác biệt gì giữa ‘shunyavada’ của Nagarjuna và ‘avyakritopadesh’, giáo huấn không nói ra và không xác định nổi của Phật không?
Không có khác biệt chút nào. Nếu khác biệt dường như có đó, đấy chỉ là bởi vì cách phát biểu. Nagarjuna* là một triết gia vĩ đại, một trong những người vĩ đại nhất thế giới. Chỉ vài người trên thế giới, rất ít người, mới có phẩm chất xuyên thấu mà Nagarjuna có. Cho nên, cách nói của ông ấy là rất triết học, logic, tuyệt đối logic. Phật là nhà huyền môn, không phải triết gia. Cách nói của ông ấy thì mang nhiều tính thơ ca hơn là triết lí. Cách tiếp cận là khác, nhưng Nagarjuna nói đích xác hệt những điều như Phật nói. Cách phát biểu của họ chắc chắn là khác nhau, nhưng điều họ đang nói phải được hiểu.
Bạn hỏi - câu hỏi này là từ Omanath Bharti - “Liệu có khác biệt gì giữa shunyavada...” Shunyavada có nghĩa là lí thuyết, triết học về cái không. Trong tiếng Anh không có từ nào có thể tương đương, xấp xỉ tương đương, với shunya. Shunya có nghĩa là cái trống rỗng; nhưng không phải là cái trống rỗng tiêu cực, mà rất tích cực. Nó có nghĩa là cái không, nhưng nó không đơn giản nghĩa là cái không; nó có nghĩa là tính chất về cái không.
Shunya có nghĩa là hư vô, hư vô về mọi thứ. Nhưng bản thân cái hư vô có đấy, với sự hiện diện hoàn toàn, cho nên nó không chỉ là hư vô. Nó cũng tựa như bầu trời trống rỗng, chính là không gian thuần khiết, nhưng nó có đấy. Mọi thứ tới trong nó và đi, mà nó thì còn lại.
Shunya cũng tựa như bầu trời - sự hiện diện thuần khiết. Bạn không thể động chạm tới nó mặc dầu bạn sống trong nó. Bạn không thể thấy nó mặc dầu bạn chẳng bao giờ có thể hiện hữu mà không có nó. Bạn tồn tại trong nó; hệt như cá tồn tại trong đại dương, bạn tồn tại trong không gian, trong shunya. Shunyavada có nghĩa là mọi thứ nảy sinh ra từ cái không có gì.
Mới vài phút trước đây tôi đã nói cho các bạn về khác biệt giữa chân lí và thực tại. Thực tại có nghĩa là thế giới của các vật, còn chân lí có nghĩa là thế giới của cái không có gì, cái không - shunya. Tất cả mọi vật đều nảy sinh từ cái không và tan biến trở lại vào trong cái không.
Trong Upanishad có câu chuyện:
Svetaketu trở về nhà từ nhà thầy, trở về với bố mẹ mình. Anh ta đã học tất cả. Bố anh ta, Uddalaka, một triết gia lớn, nhìn vào anh ta và nói, “Svetaketu, con đi ra ngoài và đem quả của cây ở đằng kia lại đây.”
Anh ta đi ra ngoài, đem lại quả cây. Và người bố nói, “Đập nó ra. Con thấy gì trong nó?” Có nhiều hạt mầm trong nó. Rồi người bố lại nói, “Lấy một hạt và đập nó ra. Con thấy gì trong nó?”
Anh chàng ta nói, “Chẳng có gì ạ.” Thế là người bố nói, “Mọi thứ đều nảy sinh ra từ cái không này. Cái cây lớn này, lớn đến mức một nghìn chiếc xe bò kéo có thể ẩn dưới tán lá của nó, đã nảy sinh ra chỉ từ một hạt mầm. Và con đập hạt mầm ra và con chẳng thấy gì ở đó cả. Đây là điều bí ẩn của cuộc sống - mọi thứ đều nảy sinh từ cái không. Và rồi một ngày nào đó cái cây biến mất, và con cũng chẳng biết ở đâu; con không thể tìm thấy nó ở bất kì đâu.”
Con người cũng vậy: chúng ta nảy sinh từ cái không, và chúng ta là cái không, và chúng ta biến mất vào trong cái không. Đây là shunyavada.
Và avyakritopadesh của Phật, giáo huấn không nói ra và không định nghĩa nổi là gì? Nó cũng cùng là điều đó. Ông ấy chưa bao giờ làm cho nó thành rõ ràng về mặt triết học như Nagarjuna đã làm. Đó là lí do tại sao ông ấy chưa bao giờ nói về nó. Đó là lí do tại sao ông ấy lại nói nó là không thể nào xác định nổi; điều đó không thể nào được đem tới mức độ của ngôn ngữ. Ông ấy giữ im lặng về nó.
Bạn có biết Bài thuyết giảng Hoa không? Một hôm ông ấy tới với hoa sen trong tay và ngồi im lặng, chẳng nói điều gì. Và mười nghìn đệ tử có đó, mười nghìn khất sĩ bhikkhus có đó, và họ cứ đợi ông ấy nói điều gì đó, còn ông ấy thì cứ nhìn vào hoa sen. Có im lặng lớn lao, và thế rồi có bất an lớn nữa. Mọi người bắt đầu bồn chồn - “Ông ấy đang làm gì thế nhỉ? Ông ấy chưa bao giờ làm như thế trước đây.”
Thế rồi một đệ tử, Mahakashyapa*, mỉm cười. Phật gọi Mahakashyapa lại, trao cho ông ấy hoa sen, và nói với toàn thể hội chúng, “Điều có thể nói ta đã nói cho các ông, còn điều không thể nói ra được thì ta trao cho Mahakashyapa.”
Đây là avyakritopadesh, đây là thông điệp không xác định nổi. Đây là ngọn nguồn của thiền phật giáo, việc truyền trao. Cái gì đó đã được Phật truyền cho Mahakashyapa, điều gì đó là cái không; trên bình diện thấy được thì là cái không - không lời, không kinh sách, không lí thuyết - nhưng cái gì đó đã được truyền trao. Cái gì vậy?
Các thiền sư đã từng thiền về điều này suốt hai nghìn năm trăm năm: “Cái gì vậy? Cái gì đã được truyền trao? Cái gì đích xác đã được trao?” Trong thực tế, chẳng có gì đã được trao từ Phật sang Mahakashyapa; Mahakashyapa chắc chắn đã hiểu điều gì đó. Ông ấy đã hiểu im lặng, ông ấy đã hiểu im lặng xuyên thấu. Ông ấy đã hiểu khoảnh khắc sáng tỏ đó, khoảnh khắc vô suy nghĩ hoàn toàn đó. Ông ấy trở thành một, trong khoảnh khắc đó, với Phật. Đó là buông xuôi là gì. Không phải là ông ấy làm điều đó: Phật vẫn im lặng và ông ấy cũng im lặng, và những cái im lặng đó gặp nhau, và hai cái im lặng đó tan biến vào lẫn nhau. Và hai cái im lặng đó không thể vẫn còn tách biệt được, nhớ lấy, bởi vì cái im lặng không có biên giới, cái im lặng là vô biên, cái im lặng đơn giản là cởi mở, cởi mở từ mọi phía. Trong hội chúng vĩ đại mười nghìn sư có hai người im lặng vào ngày đó - Phật và Mahakashyapa. Những người khác vẫn còn ở ngoài.
Mahakashyapa và Phật gặp nhau: đó là là lí do tại sao ông ấy mỉm cười - bởi vì đó là buổi thuyết giảng lớn nhất mà Phật đã giảng. Không nói lấy một lời mà ông ấy đã nói tất cả, tất cả những cái có thể nói - và tất cả những cái không thể nói nữa.
Mahakashyapa đã hiểu và cười to. Trong cái cười đó Mahakashyapa biến mất hoàn toàn, trở thành vị phật. Ngọn lửa từ chiếc đèn của Phật đã nhảy sang Mahakashyapa. Điều đó được gọi là ‘việc truyền trao bên ngoài kinh sách’ - Buổi thuyết giảng Hoa. Đó là điều duy nhất trong lịch sử tâm thức con người. Đó là điều được gọi là avyakritopadesh: lời không nói, lời không thốt ra.
Im lặng trở thành bản chất thế, rắn chắc thế; im lặng trở thành thực thế, tồn tại đến thế; im lặng trở thành rõ ràng đến thế trong khoảnh khắc đó. Phật là cái không, Mahakashyapa cũng hiểu cái không nghĩa là gì, hoàn toàn trống rỗng nghĩa là gì.
Không có khác biệt giữa shunyavada của Nagarjuna và thông điệp không nói ra của Phật. Nagarjuna là một trong những đệ tử vĩ đại nhất của Phật, và là một trong những người hiểu biết sắc sảo nhất. Chỉ rất ít người – có thời là Socrates, Shankara - có thể sánh được với Nagarjuna. Ông ấy rất, rất thông minh. Điều tột bực mà người hiểu biết có thể làm là tự tử; điều vĩ đại nhất, đỉnh cao vĩ đại nhất mà có thể tới cho người hiểu biết là vượt ra ngoài chính mình - đó là điều Nagarjuna đã làm. Ông ấy đã vượt qua tất cả các lĩnh vực của hiểu biết, và vượt ra ngoài.
Các nhà thực chứng logic nói rằng cái không đơn thuần là trừu tượng. Trong những thể nghiệm khác nhau của những câu phủ định - chẳng hạn: cái này không ngọt, tôi không khoẻ, tôi không ở đó, anh ấy không thích tôi vân vân và vân vân - thì phủ định không có bản chất của riêng nó. Đây là điều các nhà thực chứng logic nói. Phật không đồng ý, Nagarjuna không đồng ý. Martin Heidegger, một trong những người hiểu biết sâu sắc nhất của thời hiện đại, cũng không đồng ý.
Heidegger nói có một kinh nghiệm thực tại về cái không. Đấy không phải chỉ là cái gì đó do ngôn ngữ tạo ra; có một kinh nghiệm thực tại về cái không. Nó nhất định không tách rời với sự hiện hữu. Kinh nghiệm xác nhận cho điều này là kinh nghiệm về khiếp hãi.
Kierkegaard, triết gia Đan mạch, cũng hỏi, “Cái không tạo ra hiệu quả gì?” và trả lời, “Nó gây ra khiếp hãi.” Cái không là một kinh nghiệm thực tại. Hoặc bạn có thể kinh nghiệm nó trong thiền sâu, hoặc khi cái chết tới. Chết và thiền là hai khả năng kinh nghiệm nó. Thế đấy, đôi khi bạn có thể kinh nghiệm nó cả trong tình yêu nữa. Nếu bạn tan biến trong ai đó trong tình yêu sâu sắc thì bạn có thể kinh nghiệm một loại cái không. Đó là lí do tại sao người ta sợ tình yêu - họ chỉ đi sâu thế, rồi hoảng sợ nổi lên, thế là họ sợ. Đó là lí do tại sao rất ít người vẫn còn cực thích - bởi vì cực thích cho bạn kinh nghiệm về cái không. Bạn biến mất, bạn tan ra trong cái gì đó và bạn không biết nó là gì. Bạn đi vào trong cái không xác định nổi, avyakrit. Bạn vượt ra ngoài xã hội. Bạn đi vào trong một đơn vị nào đó nơi tách biệt là không hợp lệ, nơi bản ngã không tồn tại. Và điều đó gây ra sợ, bởi vì nó giống như chết.
Cho nên nó là kinh nghiệm, hoặc trong tình yêu, cái mà mọi người đã học để tránh né - cho nên biết bao nhiêu người cứ khao khát mãi tình yêu, và cứ phá huỷ tất cả các khả năng cho nó bởi vì sợ cái không - hay, trong thiền sâu khi ý nghĩ dừng lại. Bạn đơn giản thấy chẳng có gì bên trong cả, nhưng cái không đó có sự hiện diện; nó không đơn giản là việc thiếu vắng ý nghĩ, nó là sự hiện diện của cái gì đó chưa biết, bí ẩn, một cái gì đó rất lớn lao. Hay, bạn có thể kinh nghiệm nó trong cái chết, nếu bạn tỉnh táo. Mọi người thường chết trong vô ý thức. Nếu bạn chết có ý thức... Và bạn có thể chết có ý thức chỉ khi bạn chấp nhận hiện tượng chết, và bởi điều đó mà người ta phải học trong toàn bộ cuộc sống, để chuẩn bị. Người ta phải yêu để sẵn sàng chết, và người ta phải thiền để sẵn sàng chết. Chỉ người đã yêu và thiền mới có thể chết có ý thức. Và một khi bạn chết có ý thức thế thì chẳng cần cho bạn phải quay lại nữa, bởi vì bạn đã học bài học cuộc sống. Thế thì bạn tan biến trong cái toàn thể; đó là niết bàn.
Những nhà thực chứng logic nhìn rất logic, nhưng họ bỏ lỡ điều gì đó - bởi vì thực tại thì còn nhiều hơn là logic. Trong kinh nghiệm thông thường chúng ta chỉ đi tới điều họ nói: cái ghế này ở đây, nó sẽ bị bỏ đi, thế thì bạn sẽ nói không có ghế ở đó. Điều đó đơn giản chỉ ra việc thiếu vắng - cái ghế đã bị bỏ đi. Đây là những thí dụ thông thường về cái không: có thời đã có một ngôi nhà và thế rồi nó đã bị triệt phá, nó không còn ở đấy nữa. Nó chỉ là sự thiếu vắng.
Nhưng có cái không nằm sâu ở bên trong bản thể bạn, tại chính cốt lõi. Tại chính cốt lõi cuộc sống, cái chết tồn tại. Cái chết là trung tâm của cơn xoáy lốc. Trong tình yêu bạn tới gần điều đó, trong thiền bạn tới gần điều đó, trong cái chết vật lí bạn cũng tới gần điều đó. Nó chính là việc đem lại cuộc sống, nó chính là việc nâng cao cuộc sống. Người không thể ngủ sâu sẽ trở nên ốm yếu, bởi vì chỉ trong giấc ngủ sâu, khi người đó chết đi trong độ sâu nhất của mình, người đó mới thu lại cuộc sống, năng lượng, sức sống. Buổi sáng người đó lại tươi tắn và đầy say mê, thích thú - sống động, lại sôi nổi.
Học chết đi! Đó là nghệ thuật lớn lao nhất cần phải học, kĩ năng lớn lao nhất có đó.
Quan điểm của Heidegger tới rất gần với quan điểm của Phật, và ngôn ngữ của ông ấy rất hiện đại, đó là lí do tại sao tôi trích dẫn ông ấy. Ông ấy nói: “Mọi sinh linh, chừng nào đấy vẫn còn là một sinh linh, đều được tạo nên từ cái không.” Có cả song hành với học thuyết Ki tô giáo nữa - rất lôi thôi, bởi vì các nhà thượng đế học Ki tô giáo không thể đảm đương được điều đó, nó là quá nhiều. Học thuyết đó là creatio ex nihilo: sự sáng tạo là từ cái không.
Nếu bạn hỏi nhà vật lí hiện đại, ông ta sẽ đồng ý với Phật: bạn càng đi sâu hơn vào vật chất, mọi vật bắt đầu biến mất. Một khoảnh khắc tới, khi nguyên tử bị phân chia - vật hoàn toàn biến mất. Thế thì có các điện tử, nhưng chúng không còn là vật nữa, chúng là cái không vật. Rất khó để hiểu. Nhưng vật lí, vật lí hiện đại, đã tới rất gần với siêu hình - bởi vì nó tới ngày một gần hơn với thực tại hàng ngày. Nó đang tiến qua vật chất, nhưng đi tới cái không. Bạn biết vật chất không tồn tại nữa trong vật lí hiện đại. Vật chất chỉ là ảo tưởng: nó chỉ xuất hiện, nó không có đó. Tính rắn chắc của nó, cái chất liệu của nó, là ảo tưởng; chẳng có gì là bản chất cả, tất cả đều là luồng và năng lượng. Vật chất không là gì ngoài năng lượng. Và khi bạn đi sâu hơn vào trong năng lượng, thì năng lượng cũng không phải là vật, nó là cái không-vật.
Cái chết là điểm mà tại đó tri thức thành giả tạm, và chúng ta trở thành cởi mở với bản thể - cái đã từng là kinh nghiệm của phật tử qua nhiều thời đại. Phật hay phái các đệ tử của mình, khi có một ai đó chết, đến xem thân thể đang cháy trên dàn hoả thiêu: “Thiền ở đó đi, thiền về cái không của cuộc sống.” Cái chết là điểm mà tại đó tri thức thành giả tạm, và khi tri thức thành giả tạm thì tâm trí cũng giả nốt. Và khi tâm trí là giả thì có khả năng chân lí thấm vào bạn.
Nhưng mọi người không biết. Khi ai đó chết đi bạn không biết phải làm gì, bạn rất bối rối. Khi ai đó chết đi, đấy là khoảnh khắc lớn lao để thiền.
Tôi bao giờ cũng nghĩ rằng mỗi thành phố đều cần một Trung tâm chết. Khi ai đó hấp hối và cái chết của người đó là sắp xảy ra đến nơi, người đó nên được chuyển vào Trung tâm chết. Nó nên là một ngôi đền nhỏ nơi những người có thể đi sâu vào thiền nên ngồi quanh người đó, giúp người đó chết, và nên thực hành trong bản thể người đó khi người đó tan biến trong cái không. Khi ai đó biến mất trong cái không, năng lượng lớn được thoát ra. Năng lượng đã có đó, bao quanh người ấy, đang thoát ra. Nếu bạn ở trong không gian im lặng quanh người đó, bạn sẽ tiếp tục cuộc hành trình lớn. Không trạng thái phiêu diêu nào có thể đưa bạn tới được chỗ đó.
Người này tự nhiên để thoát ra năng lượng lớn; nếu bạn có thể hấp thu năng lượng đó, bạn cũng sẽ có một loại chết cùng với người đó. Và bạn sẽ thấy điều tối thượng - ngọn nguồn và cái đích, cái bắt đầu và cái kết thúc.
“Con người là sinh linh mà qua đó cái không đi vào trong thế giới,” Jean-Paul Sartre nói. Tâm thức không phải là vật này hay vật kia, nó không phải là bất kì vật nào cả; nhưng có chắc nó là bản thân nó không? “Không,” Sartre nói, “chính xác vấn đề là không. Tâm thức chưa bao giờ đồng nhất với chính mình. Do vậy, khi tôi phản xạ bản thân mình, thì cái ta được phản xạ là khác cái ta phản xạ. Khi tôi cố gắng phát biểu tôi là gì, tôi thất bại, bởi vì trong khi tôi đang nói, cái tôi đang nói trượt vào trong quá khứ và trở thành cái tôi đã là. Tôi là quá khứ của mình và tương lai của mình, vậy mà tôi lại không có. Tôi đã từng là người này, và tôi sẽ là người khác. Nhưng trong hiện tại, có cái không.”
Nếu ai đó hỏi bạn, “Bạn là ai?” thì bạn sẽ định nói gì nào? Hoặc bạn có thể trả lời từ quá khứ, mà không còn nữa, hoặc bạn có thể trả lời từ tương lai, cái mà bạn còn chưa có. Nhưng ngay khoảnh khắc này bạn là ai? Không ai cả, cái không. Cái không này là chính cốt lõi, tâm điểm - tâm điểm của bản thể bạn.
Cái chết không phải là chiếc rìu đốn ngã cây cuộc sống, nó là quả trưởng thành trên cây đó. Cái chết chính là chất liệu tạo nên bạn. Cái không là chính bản thể của bạn. Việc đạt tới cái không này hoặc là qua tình yêu hoặc là qua thiền, và người ta cứ có thoáng nhìn về nó. Đây là điều Nagarjuna ngụ ý bởi shunya. Đây là điều Phật truyền trao cái ngày hôm ấy khi ông ấy tiến hành Buổi thuyết giảng Hoa. Đây là điều Mahakashyapa đã hiểu khi ông ấy cười to. Ông ấy thấy cái không, và thuần khiết của nó, hồn nhiên của nó, hồn nhiên nguyên thuỷ của nó, toả sáng của nó, bất tử của nó - bởi vì cái không không thể chết được. Mọi thứ đều chết; cái không là bất tử, vĩnh hằng.
Nếu bạn bị đồng nhất với bất kì cái gì, bạn sẽ phải chịu đựng cái chết. Nhưng nếu bạn biết rằng bạn là cái chết, làm sao bạn có thể phải chịu đựng cái chết? Thế thì chẳng cái gì có thể phá huỷ được bạn; cái không là không thể huỷ diệt nổi.
Một chuyện ngụ ngôn của phật giáo kể rằng Diêm vương hỏi một linh hồn mới tới liệu trong khi sống người đó có gặp ba người đưa tin của cõi trời không. Và khi người đó trả lời, “Không, tâu Diêm vương, tôi không gặp,” thì ông ấy lại hỏi liệu người đó có gặp một ông già còng lưng vì tuổi tác, hay một người nghèo khó ốm yếu không bè bạn, hay một người chết không?
Phật tử gọi ba loại người này là ‘ba người đưa tin của Thượng đế’: tuổi già, bệnh tật, cái chết - ba người đưa tin của Thượng đế. Tại sao? - bởi vì chỉ qua những kinh nghiệm này trong cuộc sống mà bạn mới trở nên nhận biết về cái chết. Và nếu bạn trở nên nhận biết về cái chết và bạn bắt đầu học cách đi vào trong nó, cách thức đón chào nó, cách thức tiếp nhận nó, bạn được thoát khỏi cảnh nô lệ, thoát khỏi bánh xe sống và chết.
Heidegger nói, và Soren Kierkegaard cũng nói thế, rằng cái không tạo ra khiếp sợ. Đấy mới chỉ là một nửa câu chuyện. Bởi vì hai người này chỉ là các triết gia, đó là lí do tại sao điều ấy lại tạo ra khiếp sợ. Nếu bạn hỏi Phật, Mahakashyapa, Nagarjuna, nếu bạn hỏi tôi, thì cái chết được nhìn với chỉ một phần sẽ tạo ra khiếp sợ; được nhìn một cách tuyệt đối, toàn bộ, thì nó giải phóng bạn khỏi mọi khiếp sợ, khỏi mọi đau khổ, khỏi mọi lo âu, nó giải phóng bạn khỏi luân hồi samsara... bởi vì nếu bạn nhìn một phần thôi, nó tạo ra sợ hãi rằng bạn đang sắp chết, rằng bạn sẽ trở thành cái không, rằng chẳng mấy chốc bạn sẽ biến mất. Và tự nhiên bạn cảm thấy bồn chồn, run rẩy, mất gốc. Nếu bạn nhìn vào cái chết một cách toàn bộ, thế thì bạn biết bạn là cái chết, bạn được tạo nên từ nó. Cho nên chẳng có gì sắp biến mất cả, chẳng có gì sắp còn lại cả. Chỉ cái không là có đấy.
Phật giáo không phải là tôn giáo yếm thế như nhiều người đã từng coi là vậy. Phật giáo là cách thức gạt bỏ cả lạc quan và bi quan, gạt bỏ nhị nguyên.
Bắt đầu thiền về chết đi. Và bất kì khi nào bạn cảm thấy cái chết tới gần, đi vào trong nó qua cánh cửa tình yêu, qua cánh cửa thiền, qua cánh cửa của người đang chết. Và nếu một ngày nào đó bạn sắp chết - và ngày ấy đang tới qua từng ngày một - đón nhận nó trong vui vẻ, phúc lành. Và nếu bạn có thể đón nhận cái chết trong vui vẻ và phúc lành, bạn sẽ đạt tới đỉnh lớn lao nhất, bởi vì cái chết là đỉnh cao của cuộc sống. Ẩn giấu trong nó là cực thích lớn nhất, bởi vì ẩn giấu trong nó là tự do lớn nhất.
Cái chết đang làm tình với Thượng đế, hay Thượng đế đang làm tình với bạn. Cái chết là cực thích toàn bộ, vũ trụ. Cho nên vứt tất cả những ý tưởng rằng bạn đang mang cái chết đi - chúng là nguy hiểm. Chúng làm cho bạn đối kháng với kinh nghiệm lớn lao nhất mà bạn cần phải có. Nếu bạn để lỡ cái chết, bạn sẽ được sinh ra nữa.
Chừng nào mà bạn còn chưa học được cách chết, bạn sẽ còn tiếp tục được sinh ra nữa và nữa và nữa. Đây là bánh xe, luân hồi samsara, thế gian. Một khi bạn đã biết đến cực thích lớn nhất, thế thì không cần nữa; bạn biến mất, và bạn vẫn còn trong cực thích đó mãi mãi. Bạn không còn giống bạn, bạn không còn như một thực thể, bạn không còn được xác định, được đồng nhất với bất kì cái gì. Bạn vẫn còn như một tổng thể, không phải như bộ phận.

Đây là shunyavada của Nagarjuna, và đây cũng là thông điệp không nói ra, lời không nói ra của Phật. Chúng cả hai là một.
Trích "Tâm kinh" Chương 2
0 comments