Cái không là gì?
Osho kính yêu,
Liệu có khác biệt gì giữa
‘shunyavada’ của Nagarjuna và ‘avyakritopadesh’, giáo huấn không nói ra và không
xác định nổi của Phật không?
Không có khác
biệt chút nào. Nếu khác biệt dường như có đó, đấy chỉ là bởi vì cách phát biểu.
Nagarjuna* là một triết gia vĩ đại, một trong những người vĩ đại nhất thế giới.
Chỉ vài người trên thế giới, rất ít người, mới có phẩm chất xuyên thấu mà
Nagarjuna có. Cho nên, cách nói của ông ấy là rất triết học, logic, tuyệt đối
logic. Phật là nhà huyền môn, không phải triết gia. Cách nói của ông ấy thì
mang nhiều tính thơ ca hơn là triết lí. Cách tiếp cận là khác, nhưng Nagarjuna
nói đích xác hệt những điều như Phật nói. Cách phát biểu của họ chắc chắn là
khác nhau, nhưng điều họ đang nói phải được hiểu.
Bạn hỏi - câu
hỏi này là từ Omanath Bharti - “Liệu có khác biệt gì giữa shunyavada...”
Shunyavada có nghĩa là lí thuyết, triết học về cái không. Trong tiếng Anh không
có từ nào có thể tương đương, xấp xỉ tương đương, với shunya. Shunya có nghĩa
là cái trống rỗng; nhưng không phải là cái trống rỗng tiêu cực, mà rất tích cực.
Nó có nghĩa là cái không, nhưng nó không đơn giản nghĩa là cái không; nó có nghĩa
là tính chất về cái không.
Shunya có
nghĩa là hư vô, hư vô về mọi thứ. Nhưng bản thân cái hư vô có đấy, với sự hiện
diện hoàn toàn, cho nên nó không chỉ là hư vô. Nó cũng tựa như bầu trời trống rỗng,
chính là không gian thuần khiết, nhưng nó có đấy. Mọi thứ tới trong nó và đi,
mà nó thì còn lại.
Shunya cũng tựa
như bầu trời - sự hiện diện thuần khiết. Bạn không thể động chạm tới nó mặc dầu
bạn sống trong nó. Bạn không thể thấy nó mặc dầu bạn chẳng bao giờ có thể hiện
hữu mà không có nó. Bạn tồn tại trong nó; hệt như cá tồn tại trong đại dương, bạn
tồn tại trong không gian, trong shunya. Shunyavada có nghĩa là mọi thứ nảy sinh
ra từ cái không có gì.
Mới vài phút
trước đây tôi đã nói cho các bạn về khác biệt giữa chân lí và thực tại. Thực tại
có nghĩa là thế giới của các vật, còn chân lí có nghĩa là thế giới của cái không
có gì, cái không - shunya. Tất cả mọi vật đều nảy sinh từ cái không và tan biến
trở lại vào trong cái không.
Trong
Upanishad có câu chuyện:
Svetaketu trở
về nhà từ nhà thầy, trở về với bố mẹ mình. Anh ta đã học tất cả. Bố anh ta,
Uddalaka, một triết gia lớn, nhìn vào anh ta và nói, “Svetaketu, con đi ra ngoài
và đem quả của cây ở đằng kia lại đây.”
Anh ta đi ra
ngoài, đem lại quả cây. Và người bố nói, “Đập nó ra. Con thấy gì trong nó?” Có
nhiều hạt mầm trong nó. Rồi người bố lại nói, “Lấy một hạt và đập nó ra. Con thấy
gì trong nó?”
Anh chàng ta
nói, “Chẳng có gì ạ.” Thế là người bố nói, “Mọi thứ đều nảy sinh ra từ cái không
này. Cái cây lớn này, lớn đến mức một nghìn chiếc xe bò kéo có thể ẩn dưới tán
lá của nó, đã nảy sinh ra chỉ từ một hạt mầm. Và con đập hạt mầm ra và con chẳng
thấy gì ở đó cả. Đây là điều bí ẩn của cuộc sống - mọi thứ đều nảy sinh từ cái
không. Và rồi một ngày nào đó cái cây biến mất, và con cũng chẳng biết ở đâu;
con không thể tìm thấy nó ở bất kì đâu.”
Con người
cũng vậy: chúng ta nảy sinh từ cái không, và chúng ta là cái không, và chúng ta
biến mất vào trong cái không. Đây là shunyavada.
Và
avyakritopadesh của Phật, giáo huấn không nói ra và không định nghĩa nổi là gì?
Nó cũng cùng là điều đó. Ông ấy chưa bao giờ làm cho nó thành rõ ràng về mặt triết
học như Nagarjuna đã làm. Đó là lí do tại sao ông ấy chưa bao giờ nói về nó. Đó
là lí do tại sao ông ấy lại nói nó là không thể nào xác định nổi; điều đó không
thể nào được đem tới mức độ của ngôn ngữ. Ông ấy giữ im lặng về nó.
Bạn có biết
Bài thuyết giảng Hoa không? Một hôm ông ấy tới với hoa sen trong tay và ngồi im
lặng, chẳng nói điều gì. Và mười nghìn đệ tử có đó, mười nghìn khất sĩ bhikkhus
có đó, và họ cứ đợi ông ấy nói điều gì đó, còn ông ấy thì cứ nhìn vào hoa sen.
Có im lặng lớn lao, và thế rồi có bất an lớn nữa. Mọi người bắt đầu bồn chồn - “Ông
ấy đang làm gì thế nhỉ? Ông ấy chưa bao giờ làm như thế trước đây.”
Thế rồi một đệ
tử, Mahakashyapa*, mỉm cười. Phật gọi Mahakashyapa lại, trao cho ông ấy hoa
sen, và nói với toàn thể hội chúng, “Điều có thể nói ta đã nói cho các ông, còn
điều không thể nói ra được thì ta trao cho Mahakashyapa.”
Đây là
avyakritopadesh, đây là thông điệp không xác định nổi. Đây là ngọn nguồn của
thiền phật giáo, việc truyền trao. Cái gì đó đã được Phật truyền cho Mahakashyapa,
điều gì đó là cái không; trên bình diện thấy được thì là cái không - không lời,
không kinh sách, không lí thuyết - nhưng cái gì đó đã được truyền trao. Cái gì
vậy?
Các thiền sư
đã từng thiền về điều này suốt hai nghìn năm trăm năm: “Cái gì vậy? Cái gì đã
được truyền trao? Cái gì đích xác đã được trao?” Trong thực tế, chẳng có gì đã
được trao từ Phật sang Mahakashyapa; Mahakashyapa chắc chắn đã hiểu điều gì đó.
Ông ấy đã hiểu im lặng, ông ấy đã hiểu im lặng xuyên thấu. Ông ấy đã hiểu khoảnh
khắc sáng tỏ đó, khoảnh khắc vô suy nghĩ hoàn toàn đó. Ông ấy trở thành một,
trong khoảnh khắc đó, với Phật. Đó là buông xuôi là gì. Không phải là ông ấy
làm điều đó: Phật vẫn im lặng và ông ấy cũng im lặng, và những cái im lặng đó gặp
nhau, và hai cái im lặng đó tan biến vào lẫn nhau. Và hai cái im lặng đó không
thể vẫn còn tách biệt được, nhớ lấy, bởi vì cái im lặng không có biên giới, cái
im lặng là vô biên, cái im lặng đơn giản là cởi mở, cởi mở từ mọi phía. Trong hội
chúng vĩ đại mười nghìn sư có hai người im lặng vào ngày đó - Phật và Mahakashyapa.
Những người khác vẫn còn ở ngoài.
Mahakashyapa
và Phật gặp nhau: đó là là lí do tại sao ông ấy mỉm cười - bởi vì đó là buổi
thuyết giảng lớn nhất mà Phật đã giảng. Không nói lấy một lời mà ông ấy đã nói
tất cả, tất cả những cái có thể nói - và tất cả những cái không thể nói nữa.
Mahakashyapa
đã hiểu và cười to. Trong cái cười đó Mahakashyapa biến mất hoàn toàn, trở
thành vị phật. Ngọn lửa từ chiếc đèn của Phật đã nhảy sang Mahakashyapa. Điều
đó được gọi là ‘việc truyền trao bên ngoài kinh sách’ - Buổi thuyết giảng Hoa.
Đó là điều duy nhất trong lịch sử tâm thức con người. Đó là điều được gọi là
avyakritopadesh: lời không nói, lời không thốt ra.
Im lặng trở
thành bản chất thế, rắn chắc thế; im lặng trở thành thực thế, tồn tại đến thế;
im lặng trở thành rõ ràng đến thế trong khoảnh khắc đó. Phật là cái không, Mahakashyapa
cũng hiểu cái không nghĩa là gì, hoàn toàn trống rỗng nghĩa là gì.
Không có khác
biệt giữa shunyavada của Nagarjuna và thông điệp không nói ra của Phật.
Nagarjuna là một trong những đệ tử vĩ đại nhất của Phật, và là một trong những
người hiểu biết sắc sảo nhất. Chỉ rất ít người – có thời là Socrates, Shankara
- có thể sánh được với Nagarjuna. Ông ấy rất, rất thông minh. Điều tột bực mà người
hiểu biết có thể làm là tự tử; điều vĩ đại nhất, đỉnh cao vĩ đại nhất mà có thể
tới cho người hiểu biết là vượt ra ngoài chính mình - đó là điều Nagarjuna đã
làm. Ông ấy đã vượt qua tất cả các lĩnh vực của hiểu biết, và vượt ra ngoài.
Các nhà thực
chứng logic nói rằng cái không đơn thuần là trừu tượng. Trong những thể nghiệm
khác nhau của những câu phủ định - chẳng hạn: cái này không ngọt, tôi không khoẻ,
tôi không ở đó, anh ấy không thích tôi vân vân và vân vân - thì phủ định không
có bản chất của riêng nó. Đây là điều các nhà thực chứng logic nói. Phật không
đồng ý, Nagarjuna không đồng ý. Martin Heidegger, một trong những người hiểu biết
sâu sắc nhất của thời hiện đại, cũng không đồng ý.
Heidegger nói
có một kinh nghiệm thực tại về cái không. Đấy không phải chỉ là cái gì đó do
ngôn ngữ tạo ra; có một kinh nghiệm thực tại về cái không. Nó nhất định không
tách rời với sự hiện hữu. Kinh nghiệm xác nhận cho điều này là kinh nghiệm về
khiếp hãi.
Kierkegaard,
triết gia Đan mạch, cũng hỏi, “Cái không tạo ra hiệu quả gì?” và trả lời, “Nó
gây ra khiếp hãi.” Cái không là một kinh nghiệm thực tại. Hoặc bạn có thể kinh
nghiệm nó trong thiền sâu, hoặc khi cái chết tới. Chết và thiền là hai khả năng
kinh nghiệm nó. Thế đấy, đôi khi bạn có thể kinh nghiệm nó cả trong tình yêu nữa.
Nếu bạn tan biến trong ai đó trong tình yêu sâu sắc thì bạn có thể kinh nghiệm
một loại cái không. Đó là lí do tại sao người ta sợ tình yêu - họ chỉ đi sâu thế,
rồi hoảng sợ nổi lên, thế là họ sợ. Đó là lí do tại sao rất ít người vẫn còn cực
thích - bởi vì cực thích cho bạn kinh nghiệm về cái không. Bạn biến mất, bạn
tan ra trong cái gì đó và bạn không biết nó là gì. Bạn đi vào trong cái không
xác định nổi, avyakrit. Bạn vượt ra ngoài xã hội. Bạn đi vào trong một đơn vị
nào đó nơi tách biệt là không hợp lệ, nơi bản ngã không tồn tại. Và điều đó gây
ra sợ, bởi vì nó giống như chết.
Cho nên nó là
kinh nghiệm, hoặc trong tình yêu, cái mà mọi người đã học để tránh né - cho nên
biết bao nhiêu người cứ khao khát mãi tình yêu, và cứ phá huỷ tất cả các khả
năng cho nó bởi vì sợ cái không - hay, trong thiền sâu khi ý nghĩ dừng lại. Bạn
đơn giản thấy chẳng có gì bên trong cả, nhưng cái không đó có sự hiện diện; nó không
đơn giản là việc thiếu vắng ý nghĩ, nó là sự hiện diện của cái gì đó chưa biết,
bí ẩn, một cái gì đó rất lớn lao. Hay, bạn có thể kinh nghiệm nó trong cái chết,
nếu bạn tỉnh táo. Mọi người thường chết trong vô ý thức. Nếu bạn chết có ý thức...
Và bạn có thể chết có ý thức chỉ khi bạn chấp nhận hiện tượng chết, và bởi điều
đó mà người ta phải học trong toàn bộ cuộc sống, để chuẩn bị. Người ta phải yêu
để sẵn sàng chết, và người ta phải thiền để sẵn sàng chết. Chỉ người đã yêu và
thiền mới có thể chết có ý thức. Và một khi bạn chết có ý thức thế thì chẳng cần
cho bạn phải quay lại nữa, bởi vì bạn đã học bài học cuộc sống. Thế thì bạn tan
biến trong cái toàn thể; đó là niết bàn.
Những nhà thực
chứng logic nhìn rất logic, nhưng họ bỏ lỡ điều gì đó - bởi vì thực tại thì còn
nhiều hơn là logic. Trong kinh nghiệm thông thường chúng ta chỉ đi tới điều họ
nói: cái ghế này ở đây, nó sẽ bị bỏ đi, thế thì bạn sẽ nói không có ghế ở đó.
Điều đó đơn giản chỉ ra việc thiếu vắng - cái ghế đã bị bỏ đi. Đây là những thí
dụ thông thường về cái không: có thời đã có một ngôi nhà và thế rồi nó đã bị
triệt phá, nó không còn ở đấy nữa. Nó chỉ là sự thiếu vắng.
Nhưng có cái
không nằm sâu ở bên trong bản thể bạn, tại chính cốt lõi. Tại chính cốt lõi cuộc
sống, cái chết tồn tại. Cái chết là trung tâm của cơn xoáy lốc. Trong tình yêu
bạn tới gần điều đó, trong thiền bạn tới gần điều đó, trong cái chết vật lí bạn
cũng tới gần điều đó. Nó chính là việc đem lại cuộc sống, nó chính là việc nâng
cao cuộc sống. Người không thể ngủ sâu sẽ trở nên ốm yếu, bởi vì chỉ trong giấc
ngủ sâu, khi người đó chết đi trong độ sâu nhất của mình, người đó mới thu lại
cuộc sống, năng lượng, sức sống. Buổi sáng người đó lại tươi tắn và đầy say mê,
thích thú - sống động, lại sôi nổi.
Học chết đi!
Đó là nghệ thuật lớn lao nhất cần phải học, kĩ năng lớn lao nhất có đó.
Quan điểm của
Heidegger tới rất gần với quan điểm của Phật, và ngôn ngữ của ông ấy rất hiện đại,
đó là lí do tại sao tôi trích dẫn ông ấy. Ông ấy nói: “Mọi sinh linh, chừng nào
đấy vẫn còn là một sinh linh, đều được tạo nên từ cái không.” Có cả song hành với
học thuyết Ki tô giáo nữa - rất lôi thôi, bởi vì các nhà thượng đế học Ki tô giáo
không thể đảm đương được điều đó, nó là quá nhiều. Học thuyết đó là creatio ex
nihilo: sự sáng tạo là từ cái không.
Nếu bạn hỏi
nhà vật lí hiện đại, ông ta sẽ đồng ý với Phật: bạn càng đi sâu hơn vào vật chất,
mọi vật bắt đầu biến mất. Một khoảnh khắc tới, khi nguyên tử bị phân chia - vật
hoàn toàn biến mất. Thế thì có các điện tử, nhưng chúng không còn là vật nữa,
chúng là cái không vật. Rất khó để hiểu. Nhưng vật lí, vật lí hiện đại, đã tới rất
gần với siêu hình - bởi vì nó tới ngày một gần hơn với thực tại hàng ngày. Nó
đang tiến qua vật chất, nhưng đi tới cái không. Bạn biết vật chất không tồn tại
nữa trong vật lí hiện đại. Vật chất chỉ là ảo tưởng: nó chỉ xuất hiện, nó không
có đó. Tính rắn chắc của nó, cái chất liệu của nó, là ảo tưởng; chẳng có gì là
bản chất cả, tất cả đều là luồng và năng lượng. Vật chất không là gì ngoài năng
lượng. Và khi bạn đi sâu hơn vào trong năng lượng, thì năng lượng cũng không phải
là vật, nó là cái không-vật.
Cái chết là
điểm mà tại đó tri thức thành giả tạm, và chúng ta trở thành cởi mở với bản thể
- cái đã từng là kinh nghiệm của phật tử qua nhiều thời đại. Phật hay phái các
đệ tử của mình, khi có một ai đó chết, đến xem thân thể đang cháy trên dàn hoả
thiêu: “Thiền ở đó đi, thiền về cái không của cuộc sống.” Cái chết là điểm mà tại
đó tri thức thành giả tạm, và khi tri thức thành giả tạm thì tâm trí cũng giả nốt.
Và khi tâm trí là giả thì có khả năng chân lí thấm vào bạn.
Nhưng mọi người
không biết. Khi ai đó chết đi bạn không biết phải làm gì, bạn rất bối rối. Khi
ai đó chết đi, đấy là khoảnh khắc lớn lao để thiền.
Tôi bao giờ
cũng nghĩ rằng mỗi thành phố đều cần một Trung tâm chết. Khi ai đó hấp hối và
cái chết của người đó là sắp xảy ra đến nơi, người đó nên được chuyển vào Trung
tâm chết. Nó nên là một ngôi đền nhỏ nơi những người có thể đi sâu vào thiền
nên ngồi quanh người đó, giúp người đó chết, và nên thực hành trong bản thể người
đó khi người đó tan biến trong cái không. Khi ai đó biến mất trong cái không,
năng lượng lớn được thoát ra. Năng lượng đã có đó, bao quanh người ấy, đang thoát
ra. Nếu bạn ở trong không gian im lặng quanh người đó, bạn sẽ tiếp tục cuộc
hành trình lớn. Không trạng thái phiêu diêu nào có thể đưa bạn tới được chỗ đó.
Người này tự
nhiên để thoát ra năng lượng lớn; nếu bạn có thể hấp thu năng lượng đó, bạn
cũng sẽ có một loại chết cùng với người đó. Và bạn sẽ thấy điều tối thượng - ngọn
nguồn và cái đích, cái bắt đầu và cái kết thúc.
“Con người là
sinh linh mà qua đó cái không đi vào trong thế giới,” Jean-Paul Sartre nói. Tâm
thức không phải là vật này hay vật kia, nó không phải là bất kì vật nào cả;
nhưng có chắc nó là bản thân nó không? “Không,” Sartre nói, “chính xác vấn đề
là không. Tâm thức chưa bao giờ đồng nhất với chính mình. Do vậy, khi tôi phản
xạ bản thân mình, thì cái ta được phản xạ là khác cái ta phản xạ. Khi tôi cố gắng
phát biểu tôi là gì, tôi thất bại, bởi vì trong khi tôi đang nói, cái tôi đang
nói trượt vào trong quá khứ và trở thành cái tôi đã là. Tôi là quá khứ của mình
và tương lai của mình, vậy mà tôi lại không có. Tôi đã từng là người này, và
tôi sẽ là người khác. Nhưng trong hiện tại, có cái không.”
Nếu ai đó hỏi
bạn, “Bạn là ai?” thì bạn sẽ định nói gì nào? Hoặc bạn có thể trả lời từ quá khứ,
mà không còn nữa, hoặc bạn có thể trả lời từ tương lai, cái mà bạn còn chưa có.
Nhưng ngay khoảnh khắc này bạn là ai? Không ai cả, cái không. Cái không này là
chính cốt lõi, tâm điểm - tâm điểm của bản thể bạn.
Cái chết
không phải là chiếc rìu đốn ngã cây cuộc sống, nó là quả trưởng thành trên cây
đó. Cái chết chính là chất liệu tạo nên bạn. Cái không là chính bản thể của bạn.
Việc đạt tới cái không này hoặc là qua tình yêu hoặc là qua thiền, và người ta
cứ có thoáng nhìn về nó. Đây là điều Nagarjuna ngụ ý bởi shunya. Đây là điều Phật
truyền trao cái ngày hôm ấy khi ông ấy tiến hành Buổi thuyết giảng Hoa. Đây là
điều Mahakashyapa đã hiểu khi ông ấy cười to. Ông ấy thấy cái không, và thuần
khiết của nó, hồn nhiên của nó, hồn nhiên nguyên thuỷ của nó, toả sáng của nó,
bất tử của nó - bởi vì cái không không thể chết được. Mọi thứ đều chết; cái
không là bất tử, vĩnh hằng.
Nếu bạn bị đồng
nhất với bất kì cái gì, bạn sẽ phải chịu đựng cái chết. Nhưng nếu bạn biết rằng
bạn là cái chết, làm sao bạn có thể phải chịu đựng cái chết? Thế thì chẳng cái
gì có thể phá huỷ được bạn; cái không là không thể huỷ diệt nổi.
Một chuyện ngụ
ngôn của phật giáo kể rằng Diêm vương hỏi một linh hồn mới tới liệu trong khi sống
người đó có gặp ba người đưa tin của cõi trời không. Và khi người đó trả lời,
“Không, tâu Diêm vương, tôi không gặp,” thì ông ấy lại hỏi liệu người đó có gặp
một ông già còng lưng vì tuổi tác, hay một người nghèo khó ốm yếu không bè bạn,
hay một người chết không?
Phật tử gọi
ba loại người này là ‘ba người đưa tin của Thượng đế’: tuổi già, bệnh tật, cái
chết - ba người đưa tin của Thượng đế. Tại sao? - bởi vì chỉ qua những kinh nghiệm
này trong cuộc sống mà bạn mới trở nên nhận biết về cái chết. Và nếu bạn trở
nên nhận biết về cái chết và bạn bắt đầu học cách đi vào trong nó, cách thức
đón chào nó, cách thức tiếp nhận nó, bạn được thoát khỏi cảnh nô lệ, thoát khỏi
bánh xe sống và chết.
Heidegger
nói, và Soren Kierkegaard cũng nói thế, rằng cái không tạo ra khiếp sợ. Đấy mới
chỉ là một nửa câu chuyện. Bởi vì hai người này chỉ là các triết gia, đó là lí
do tại sao điều ấy lại tạo ra khiếp sợ. Nếu bạn hỏi Phật, Mahakashyapa,
Nagarjuna, nếu bạn hỏi tôi, thì cái chết được nhìn với chỉ một phần sẽ tạo ra
khiếp sợ; được nhìn một cách tuyệt đối, toàn bộ, thì nó giải phóng bạn khỏi mọi
khiếp sợ, khỏi mọi đau khổ, khỏi mọi lo âu, nó giải phóng bạn khỏi luân hồi samsara...
bởi vì nếu bạn nhìn một phần thôi, nó tạo ra sợ hãi rằng bạn đang sắp chết, rằng
bạn sẽ trở thành cái không, rằng chẳng mấy chốc bạn sẽ biến mất. Và tự nhiên bạn
cảm thấy bồn chồn, run rẩy, mất gốc. Nếu bạn nhìn vào cái chết một cách toàn bộ,
thế thì bạn biết bạn là cái chết, bạn được tạo nên từ nó. Cho nên chẳng có gì sắp
biến mất cả, chẳng có gì sắp còn lại cả. Chỉ cái không là có đấy.
Phật giáo
không phải là tôn giáo yếm thế như nhiều người đã từng coi là vậy. Phật giáo là
cách thức gạt bỏ cả lạc quan và bi quan, gạt bỏ nhị nguyên.
Bắt đầu thiền
về chết đi. Và bất kì khi nào bạn cảm thấy cái chết tới gần, đi vào trong nó
qua cánh cửa tình yêu, qua cánh cửa thiền, qua cánh cửa của người đang chết. Và
nếu một ngày nào đó bạn sắp chết - và ngày ấy đang tới qua từng ngày một - đón
nhận nó trong vui vẻ, phúc lành. Và nếu bạn có thể đón nhận cái chết trong vui vẻ
và phúc lành, bạn sẽ đạt tới đỉnh lớn lao nhất, bởi vì cái chết là đỉnh cao của
cuộc sống. Ẩn giấu trong nó là cực thích lớn nhất, bởi vì ẩn giấu trong nó là tự
do lớn nhất.
Cái chết đang
làm tình với Thượng đế, hay Thượng đế đang làm tình với bạn. Cái chết là cực
thích toàn bộ, vũ trụ. Cho nên vứt tất cả những ý tưởng rằng bạn đang mang cái
chết đi - chúng là nguy hiểm. Chúng làm cho bạn đối kháng với kinh nghiệm lớn
lao nhất mà bạn cần phải có. Nếu bạn để lỡ cái chết, bạn sẽ được sinh ra nữa.
Chừng nào mà
bạn còn chưa học được cách chết, bạn sẽ còn tiếp tục được sinh ra nữa và nữa và
nữa. Đây là bánh xe, luân hồi samsara, thế gian. Một khi bạn đã biết đến cực
thích lớn nhất, thế thì không cần nữa; bạn biến mất, và bạn vẫn còn trong cực
thích đó mãi mãi. Bạn không còn giống bạn, bạn không còn như một thực thể, bạn không
còn được xác định, được đồng nhất với bất kì cái gì. Bạn vẫn còn như một tổng
thể, không phải như bộ phận.
Đây là
shunyavada của Nagarjuna, và đây cũng là thông điệp không nói ra, lời không nói
ra của Phật. Chúng cả hai là một.
Trích "Tâm kinh" Chương 2

Post a Comment